Huy động vốn từ vốn nguồn nước ngoài

Trong nền kinh tế thị trường, nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nói đến vốn. Vốn là điều kiện để doanh nghiệp có thể đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra một cách liên tục. Mục đích cho hoạt động sản xuất kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Do đó, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải huy động vốn để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi, đồng thời phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả ngày càng cao.
Một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lưu động, nó là yếu tố bắt đầu và kết thúc của quá trình hoạt động. Vì vậy, huy động vốn từ nguồn nước ngoài không thể thiếu trong các doanh nghiệp
2. Huy động vốn từ nguồn nước ngoài
Huy động vốn từ nguồn nước ngoài là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng. Theo tính toán, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển 1996 – 2000 và cân đối các nguồn đảm bảo thì số vốn huy động từ nước ngoài phải đạt khoảng 50% tổng số vốn cần thiết. Việc huy động vốn từ nước ngoài chủ yếu là dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn từ vay nợ, viện trợ.

2.1. Cải thiện môi trường pháp lý:Việc cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ hơn nữa trở nên vấn đề cấp bách đối với Việt Nam, nhất là phải cạnh tranh với các nước trong khu vực về vấn đề này trong bối cảnh đầu tư nước ngoài của toàn thế giới đang có xu hướng giảm sút mạnh.

Cần rà soát lại các văn bản, quy định có liên quan đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài như lĩnh vực cấp phép đầu tư có điều kiện, lĩnh vực yêu cầu phải xuất khẩu theo một tỷ lệ nhất định, các lĩnh vực mới cho phép làm thí điểm như kinh doanh siêu thị nhà ở, vui chơi có thưởng, đua ngựa, casino, bảo hiểm 100% vốn nguồn nước ngoài.
Đẩy mạnh cải cách hành chính hơn nữa, giản tiện các thủ tục giấy tờ, phân cấp mạnh mẽ cho địa phương, đẩy mạnh chống tiêu cực trong tất cả các khâu: cấp giấy phép, thủ tục xuất nhập khẩu, giải phóng mặt bằng và giao quyền sử dụng đất, thuê lao động, chuyển thu nhập ra nước ngoài.
Thực hiện cơ chế giá bình đẳng, tức một giá đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực: cước phí bưu chính viễn thông, giá điện nước, vé máy bay và các loại phương tiện giao thông khác,...

Sửa đổi một số quy định về tiền tệ, ngoại hối đối với các nhà đầu tư nước ngoài, như giảm tỷ lệ kết hối xuống còn 0%, tự do hoá thị trường giao dịch, ngoại hối, cho phép các dự án đầu tư nước ngoài và liên doanh được thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn ngân hàng, cải tiến thủ tục về chuyển lợi tức và thu nhập của các nhà đầu tư về nước…
Điều chỉnh một bước thuế thu nhập cá nhân đố với người nước ngoài xuống mức trung bình trong khu vực. Điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như phương pháp tính thuế thu nhập doạnh nghiệp đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

Tăng cường các hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam ở nước ngoài, như thông qua Tham tán thương mại Việt Nam tại các nước, mở các cuộc hội thảo ở nước ngoài, xây dựng các danh mục khuyến khích đầu tư đưa lên mạng…

Cải thiện cơ sở hạ tầng:

- Xây dựng hệ thống giao thông vận tải, điện, nước nối các vùng kinh tế, đặc biệt đối với vùng sâu vùng xa.

- Xây dựng chuẩn theo qui định quốc tế trong các khu công nghiệp, khu chế xuất,…

- Xây dựng mới và chọn lọc nâng cấp các tuyến đường quốc tế (đường hàng không và hàng hải).

- Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, đặc biệt ưu tiên vốn cho các dự án này, nhanh chóng về giải phóng mặt bằng, về thủ tục…).

Chính phủ và các địa phương phối hợp đầu tư nâng cấp và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các khu vực thu hút đầu tư nước ngoài.

2.2. Đào tạo nguồn nhân lực:Nhà nước mạnh dạn đầu tư nguồn vốn từ ngân sách cho đào tạo nghề cho người lao động, cũng như giám sát chặt chẽ chất lượng đào tạo, cung cấp lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có ngoại ngữ, có sức khoẻ, có tác phong công nghiệp… cho các dự án đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, cũng như đi xuất khẩu lao động, thu hút vốn ngoại tệ về cho đất nước. Bên cạnh đó cần có quy chế cán bộ Việt Nam tham gia các vị trí trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

- Phát triển các quĩ đào tạo.

- Đầu tư trang thiết bị phù hợp vào các chuyên ngành trong các trường dạy nghề, trường kỹ thuật…

- Nâng cao chỉ số HDI.

- Kết hợp chặt chẽ ngành Giáo dục đào tạo với các Doanh nghiệp.

- Có tư chất đạo đức.

- Trau dồi ngoại ngữ, vi tính, kiến thức kinh tế, am hiểu đầu tư nước ngoài.

- Ràng buộc về quyền lợi, với trách nhiệm cho cán bộ (đặc biệt là cán bộ quản lý và chuyên trách)

2.3. Huy động vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài:

Từ nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đánh giá rất cao vai trò của đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế – xã hội. Điều này thể hiện rất rõ trong hệ thống luật pháp về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành và tiếp tục được bổ sung, sửa đổi từ năm 1987 cho tới nay. Trong thực tế, những năm qua đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng cho tiến trình cải cách và phát triển của kinh tế Việt Nam. Tính đến cuối năm 1998, tổng số vốn đăng ký của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đạt trên 30 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện khoảng trên 10 tỷ USD. Ngành công nghiệp trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm có tốc độ tăng trưởng lớn nhất (khoảng 20%) và tăng trưởng xuất khẩu ở mức trên 20% đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và mở rộng quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới. Hiện nay và trong tương lai, Việt Nam vẫn tiếp tục chủ trương mở rộng các biện pháp tăng cường khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như: nghiên cứu để đa dạng hoá hơn nữa các hình thức đầu tư nước ngoài, đơn giản hoá thủ tục, minh bạch hoá chính sách, thực hiện ưu đãi về tài chính và thuế theo đúng Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, hoàn thiện chính sách vay và trả nợ sao cho đạt hiệu quả cao hơn… tiến dần tới thực hiện bình đẳng giữa các doanh nghiệp hoạt động theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

2.4. Huy động vốn từ nguồn vay nợ, viện trợ:
Đối với vốn huy động từ nguồn vay nợ, viện trợ mà một bộ phận lớn là vốn ODA sẽ được huy động để đầu tư vào những công trình quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế – xã hội. Với nguồn vốn này, theo kế hoạch 1996 – 2000, Nhà nước dự kiến sẽ huy động ở mức khoảng 40% tổng số vốn huy động từ nước ngoài. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á và thế giới, nên khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã giảm mạnh, do vậy việc huy động vốn từ vay nợ và việc trợ nước ngoài có thể sẽ đòi hỏi cao hơn mức dự kiến.

Ngoài hai nguồn vốn chủ yếu (đầu tư trực tiếp của nước ngoài và vay nợ, việc trợ), hiện nay Việt Nam đang nghiên cứu để mở rộng thêm các hình thức vay như phát hành trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài. Hình thức huy động vốn này đang được nghiên cứu, xây dựng đề án và có thể sẽ được thực hiện trong một tương lai gần. Đối với Việt Nam, do nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, việc huy động vốn từ nước ngoài dưới hình thức ODA, FDI gặp nhiều khó khăn, nên chúng ta đã nghĩ đến việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và coi đó là nguồn vốn có tầm quan trọng về lâu dài.

Đặc biệt, để thúc đẩy huy động vốn nước ngoài mà không đi ngược xu thế chung của thời đại là hội nhập, chúng ta cần nỗ lực, xúc tiến việc ra nhập AFTA, WTO trong thời gian tới. Việc gia nhập này sẽ đem lại nhiều cạnh tranh song cũng rất nhiều lợi ích cho Việt Nam. Đặc biệt, việc ra nhập WTO sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam, giúp nước ta trở thành môi trường thuận lợi cho huy động vốn. Để ra nhập WTO, chúng ta phải chú trọng:

- Tiếp tục cải cách kinh tế cho phù hợp yêu cầu của WTO về giá, phí dịch vụ,…

- Tạo điều kiện cho các thành viên WTO thâm nhập thị trường.

- Mở cửa thị trường dịch vụ cho các nhà kinh doanh nước ngoài như lĩnh vực bảo hiểm, thông tin, kỹ thuật, tư vấn…

- Cam kết thực hiện áp dụng thống nhất các chính sách thương mại trên phạm vi toàn cầu…

- Cam kết bảo vệ ở mức độ phù hợp về phát minh, sáng chế nhãn hiệu thương mại… (sở hữu trí tuệ).


Tất cả những biện pháp trên sẽ giúp quá trình huy động vốn hiệu quả hơn và cũng giúp quá trình sử dụng vốn ở Việt Nam đạt chất lượng cao hơn, góp phần đẩy nhanh CNH – HĐH đất nước, đưa nền kinh tế Việt Nam ngày một phát triển.


Huy động vốn từ vốn nguồn nước ngoài

Đăng nhận xét