Huy động vốn từ nguồn trong nước

 Trong nền kinh tế thị trường, nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh là phải nói đến vốn. Vốn là điều kiện để doanh nghiệp có thể đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra một cách liên tục. Mục đích cho hoạt động sản xuất kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Do đó, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải huy động vốn để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi, đồng thời phải sử dụng vốn sao cho có hiệu quả ngày càng cao.
Một trong những bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh là vốn lưu động, nó là yếu tố bắt đầu và kết thúc của quá trình hoạt động. Vì vậy, Huy động vốn từ nguồn trong nước không thể thiếu trong các doanh nghiệp.


Huy động vốn và sử dụng vốn từ nguồn trong nước có hiệu quả
1. Huy động vốn từ nguồn trong nước

Nguồn vốn trong nước luôn được coi là nguồn chủ yếu, dự tính chiếm 2/3 tổng số vốn huy động cho đầu tư, phát triển.
1.1 Huy động vốn qua kênh NSNN:
- Tăng hiệu quả thu thuế, phí, lệ phí:
+ Quản lý chặt chẽ đối với số lượng và các loại hình kinh doanh.
+ Tăng cường chống thất thu các nguồn thuế bằng cách nắm chắc các nguồn thu, các đối tượng phải thu.
+ Điều chỉnh mức thuế hợp lý.
+ Đối với cơ chế quản lý thu: thu trực tiếp nộp vào kho bạc Nhà nước. Thực hiện triệt để đốc thu, chống dây dưa, nợ, đọng thuế để thu về Ngân sách kịp thời và đầy đủ nhất.
- Phát hành trái phiếu, kỳ phiếu

1.2. Huy động vốn qua các tổ chức tín dụng – tài chính:
- Ngày một phát triển hơn nữa hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) về tổ chức quản lý cũng như về công nghệ.
+ Ngày càng đơn giản hoá các điều kiện cho doanh nghiệp và dân cư gửi tiền tiết kiệm cũng như vay vốn từ Ngân hàng.
+ Điều chính mức lãi suất hợp lý.
+ Mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ của hệ thống NHTM.
- Đa dạng hoá các hình thức tiết kiệm
- Triển khai rộng rãi các hình thức tín dụng thuê mua đối với NHTM và các công ty tài chính.
- Phát triển Hợp tác xã tín dụng, đặc biệt là quĩ tín dụng nhân dân ở xã, phường, thị trấn, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là nông dân vay vốn phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.
- Thu hút vốn thông qua các hình thức khác:

+ Tiết kiệm bưu điện:

Không ngừng nâng cao hiệu quả huy động vốn qua hình thức tiết kiệm bưu điện. Hiện nay đang có hai quan điểm phát triển của tổ chức này, đó là cho thành lập ngân hàng tiết kiệm bưu điện và hoàn thiện Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện.

+ Tiết kiệm bảo hiểm:

Giải pháp này tập trung vào phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ, thúc đẩy cạnh tranh của các Công ty bảo hiểm nhân thọ, thu hút các Công ty bảo hiểm nhân thọ tham gia mạnh mẽ hơn vào thị trường tiền tệ, đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư vốn của các tổ chức bảo hiểm.

1.3. Phát huy tiềm năng vốn từ các nguồn tài nguyên và tài sản công còn bỏ phí:
- Mở rộng đấu thầu khai thác cho mọi thành phần.
- Qui hoạch khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả.
- Chú trọng việc “đổi đất lấy vốn”, nghĩa là Nhà nước xây dựng các công trình nhà cửa, hạ tầng cơ sở và chuyển giao mới lại cho các cá nhân, doanh nghiệp để thu hồi vốn ban đầu.
- Quản lý chặt chẽ hơn một số nguồn tài sản công do các đơn vị hành chính sự nghiệp, các lực lượng vũ trang nắm giữ.


1.4. Huy động vốn qua các Doanh nghiệp:
- Tạo các điều kiện ưu đãi cho Doanh nghiệp mới hay Doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
- Đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các Doanh nghiệp trong nước cũng như Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Tạo ra cơ chế bắt buộc DNNN sử dụng lợi nhuận sau thuế, đặc biệt là quĩ đầu tư phát triển của Doanh nghiệp để tái sản xuất.
- Nhà nước cần có các định chế tài chính hợp lý cho DNNN để Doanh nghiệp có thể:
+ Thay đổi cơ cấu vốn, tài sản phù hợp với mục tiêu kinh doanh.
+ Đánh giá lại nguồn tài nguyên giao cho DNNN quản lý để tính sát với giá trị sinh lời.

1.5. Huy động vốn qua dân cư:

Trong những năm qua hệ thống ngân hàng luôn chiếm trên 90% tổng số vốn huy động của dân cho đầu tư phát triển. Tính đến hết năm 2001, tổng nguồn vốn huy động trong dân của các TCTD trong toàn quốc lên tới khoảng gần 190.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiệu quả huy động vốn trong dân của hệ thống Ngân hàng cho thực hiện CNH – HĐH theo chiến lược do Đại hội IX đề ra sẽ không cao nếu chúng ta không đề cập đến những giải pháp:

- Ngân hàng tạo sự tin tưởng và nâng cao hiểu biết của dân đối với hoạt động ngân hàng.
Ngoài tuyên truyền, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ ngân hàng phải gần gũi, giúp đỡ, tư vấn, góp ý một cách trung thực, chân thành cho dân trong việc tiết kiệm và sử dụng tiền. Phải giải thích để dân thấy được những lợi ích và sự an toàn khi gửi tiền vào Ngân hàng trước mắt cũng như lâu dài.

- Giúp dân xoá được thói quen để tiền ở nhà.
Muốn hạn chế việc dân để tiền ở nhà, Ngân hàng cần phải khuyến khích mở tài khoản cá nhân để dân chúng gửi tiền chi tiêu qua Ngân hàng. Bí mất tuyệt đối số dự trên tài khoản và những chi tiêu của chủ tài khoản. Cải tiến giờ giấc làm việc không nên làm việc theo giờ hành chính nhất là các quầy tiết kiệm.
- Khuyến khích tinh thần tiết kiệm để làm giàu, nhân điển hình trong dân chúng.
Có chính sách hướng dẫn tiêu dùng để tiết kiệm, có biện pháp đối với những thói tiêu dùng lãng phí, xa xỉ. Đồng thời Ngân hàng nên có chính sách cho vay phù hợp để tạo vốn cho sự phát triển kinh tế hộ gia đình… nhằm tăng nguồn thu.

1.6. Huy động qua thị trường chứng khoán (TTCK):

Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK. Trước mắt cần sửa đổi các văn bản pháp luật hiện hành theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh cho hệ thống và phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển của thị trường. Trong đó chú trọng tới việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 48/1998/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn; về dài hạn, nghiên cứu xây dựng Luật chứng khoán và thị trường chứng khoán, trong đó ngoài những quy định về CK & TTCK còn có những quy định rõ ràng về địa vị pháp lý của UBCKNN cho phù hợp với vai trò quản lý nhà nước về TTCK trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện các giải pháp tăng cường hàng hoá cho TTCK. Đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu Chính phủ qua TTGDCK để huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng; phát hành trái phiếu của Quỹ hỗ trợ đầu tư cho nhu cầu đầu tư phát triển; khuyến khích tăng số lượng công ty phát hành chứng khoán ra công chúng, gồm các doanh nghiệp cổ phần hoá, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và cả các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Xây dựng và mở rộng hoạt động của các Trung tâm tài chính, các tổ chức hỗ trợ phát triển thị trường; nâng quy mô vốn, mở rộng phạm vi và loại hình nghiệp vụ của các Công ty CK; phát triển các tổ chức đăng ký chuyển nhượng chứng khoán; phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm; xây dựng trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập;…

Đi đôi với việc phát triển của TTCK, cần phải tiếp tục triển khai nhanh chóng và hiệu quả việc áp dụng thông lệ quốc tế và quản trị công ty, trong đó có việc nâng cao chất lượng, đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức kiểm toán độc lập.
Tăng cường hoạt động kiểm tra và giám sát thị trường thông qua việc tổ chức và hoàn thiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra, thanh tra các hoạt động trên thị trường để kịp thời ban hành chính sách điều chỉnh phù hợp và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; xây dựng hệ thống các chỉ tiêu giám sát đối TTCK; tăng cường công tác phổ biến pháp luật về CK & TTCK để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác điều hành và quản lý TTCK…

Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về CK & TTCK trên các phương diện: Tư vấn chính sách phát triển và quản lý thị trường, xây dựng khuôn khổ pháp luật cho TTCK, đào tạo đội ngũ cán bộ; từng bước mở cửa và hội nhập với các TTCK trên thế giới theo các lộ trình mà chúng ta đã cam kết.

Hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật, trong đó chú trọng tới hệ thống giao dịch và giám sát thị trường của TTGDCK; nối mạng giữa các công ty chứng khoán với TTGDCK và người đầi tư để tạo điều kiện tiếp cận thông tin và tham gia thị trường cho người đầu tư ở tất cả các địa phương trong cả nước cũng như các nhà đầu tư ở nước ngoài…

Có thể nói, TTCK là một kênh huy động vốn có hiệu quả của nền kinh tế thị trường và có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội. Do vậy, các giải pháp để nâng cao khả năng huy động vốn của TTCK cần có sự vận dụng linh hoạt phù hợp với tình hình, điều kiện và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của nước ta trong từng thời điểm cụ thể. Có như vậy mới phát huy được hiệu quả cao nhất của TTCK, và hạn chế đến mức thấp nhất những khuyết tật và rủi ro của thị trường

Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả

Đăng nhận xét