Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng XH

1. Quan điểm Mac về mối quan hệ biện chứng lý luận giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:


- Cơ sở hạ tầng: là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất đang tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội tạo thành cơ cấu nền tảng kinh tế của xã hội đó.

+ Số lượng quan hệ sản xuất lớn hơn 1 đặc trưng cho cơ sở hạ tầng của xã hội đó là kiểu quan hệ sản xuất thuộc về phương thức sản xuất chiếm sự thống trị trong xã hội đó.
+ 3 khả năng tồn tại của cơ sở hạ tầng trong xã hội:
> Cơ sở hạ tầng đồng nhất với 1 kiểu quan hệ sản xuất.
> Cơ sở hạ tầng đồng nhất với 2 kiểuquan hệ sản xuất.
> Cơ sở hạ tầng có số lượng quan hệ sản xuất lớn hơn 2.

- Kiến trúc thượng tầng: là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội và các thiết chế tương ứng phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội đó.
+ 2 bộ phận:
> Thiết chế tổ chức
> Tư tưởng, tinh thần
- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:
+ Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng :
> Khi không phù hợp nó sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
> Khi kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng sẽ góp phần thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển.

+ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng:
> Mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng làm nảy sinh mâu thuẫn tương ứng trong kiến trúc thượng tầng do vậy để giải quyết triệt để mâu thuẫn trong kiến trúc thượng tầng phải lấy việc giải quyết mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng làm nhân tố quyết định.
> Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung, cấu trúc, sự vận động phát triển của kiến trúc thượng tầng.


2. Vận dụng mối quan hệ này vào việc luận chứng tính tất yếu của việc cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay?


- Cơ sở hạ tầng nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo nên kiến trúc thượng tầng phải xây dựng, củng cố, đối mới phù hợp.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết phải đa nguyên chính trị tuy nhiên yêu cầu khách quan đặt ra là kiến trúc thượng tầng nước ta phải đổi mới phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hoàn thành chức năng xã hội của mình.
- Trước sự yếu kém của nền hành chính nước ta hiện nay, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu“xây dựng một nền hành chính dân chủ, vững mạnh, trong sạch, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu quả”. Trong một số năm gần đây, cải cách hành chính  đã được triển khai trên cả 4 nội dung: cải cách tổ chức bộ máy hành chính công, cải cách thể chế; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tuy nhiên, tốc độ cải cách hành chính còn chậm,  hiệu quả còn thấp, chưa nhất quán. Nền hành chính có chuyển biến song vẫn tụt hậu so với tốc độ và yêu cầu cải cách của nền hành chính hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình trạng chung là nhiều cán bộ lãnh đạo và cán bộ công chức ngại thực hiện cơ chế một cửa, do ngại bị bó buộc, ngại bị rút bớt quân số và lợi ích cục bộ… Mặt khác, trình độ công chức, cán bộ ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn nhiều bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi chỉ đạt 20-30%. Trên thực tế, tuy là “một cửa” nhưng vẫn còn nhiều “ổ khóa” do không ít cán bộ, công chức tiêu cực, nhũng nhiễu tạo ra nên người dân chưa hết phiền hà. Trong khi đó, sự chỉ đạo thực hiện cải cách lại thiếu kiên quyết và nhất quán ở các cấp, các ngành; tiền lương mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu đời sống của cán bộ, công chức. Hội nghị đã tập trung thảo luận các giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2, từ 2006-2010.
- Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước.

Đăng nhận xét