Vận động là gì? Các hình thức vận động cơ bản của vật chất

Vật chất và vận động.
a. Vận động là gì?
Vận động là một phạm trù của triết học Marx-Lenin dùng để chỉ về một phương thức tồn tại của vật chất, đó là sự thay đổi của tất cả mọi sự vật hiện tượng, mọi quá trình diễn ra trong không gian, vũ trụ từ đơn giản đến phức tạp. Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian mà theo nghĩa chung nhất, vận động là mọi sự biến đổi. Thông qua vận động, vật chất mới biểu hiện và bộc lộ bản chất của mình.

b. Vận động là phư­ơng thức tồn tại của vật chất.

Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động của vật chất là tự thân vận động; bởi vì tất cả các dạng vật chất đều là một kết cấu vật chất bao gồm các yếu tố, các mặt, các quá trình liên hệ, tác động qua lại với nhau. Chính sự tác động đó đã dẫn đến sự biến đổi nói chung, tức là vận động. Quan điểm này đối lập với quan điểm duy tâm, siêu hình về vận động đi tìm nguồn gốc của vận động ở thần linh hoặc ở chủ thể nhận thức.

Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất nên nó không do ai sáng tạo ra và cũng không thể tiêu diệt đư­ợc. Nguyên lý này đ­ược chứng minh bằng định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lư­ợng.

Vận động là hình thức tồn tại của vật chất nên các dạng vật chất đư­ợc nhận thức thông qua sự vận động của chúng.

c. Các hình thức vận động cơ bản của vật chất.

Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên và triết học, lần đầu tiên Ăngghen đã phân loại thành 5 hình thức vận động cơ bản của vật chất là:

- Vận động cơ học.
- Vận động vật lý.
- Vận động hoá học.
- Vận động sinh học.
- Vận động xã hội.

Những hình thức vận động trên quan hệ với nhau theo những nguyên tắc nhất định:

Thứ nhất, giữa các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, biểu hiện những trình độ phát triển của các kết cấu vật chất.

Thứ hai, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau, nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản.

Thứ ba, các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp hơn.

Bằng sự phân loại các hình thức vận động, Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại các khoa học, cho khuynh h­ướng phân ngành và hợp ngành của các khoa học. Đồng thời còn chống lại một khuynh h­ướng sai lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao vào hình thức vận động thấp hơn.

d. Vận động và đứng im.

Ngoài ra, quá trình vận động còn bao hàm trong nó hiện tượng đứng im

Ăngghen, "đứng im tương đối của các vật thể... là điều kiện chủ yếu của sự phân hoá của vật chất". Đó là sự ổn định, là sự bảo toàn tính quy định của các sự vật, hiện tượng.

Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động là tuyệt đối, còn đứng im là tương đối, tạm thời, thể hiện ở các điểm sau:

- Vật thể chỉ đứng im trong một hình thức vận động trong một lúc nào đó, chứ không phải với mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
- Vật thể chỉ đứng im trong một quan hệ nhất định
- Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật, hiện tượng ổn định nào đó; còn vận động nói chung thì làm cho tất cả không ngừng biến đổi.
- Đứng im là biểu hiện trạng thái vận động trong thăng bằng, ổn định tương đối.

3 nhận xét

lấy ví dụ về một sự vật hiện tượng có cả 5 hình thức vận động trên.nêu mối qhệ của các hình thức đó.chứng minh hình thức vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất?

Reply

mói quan hệ giữa các hình thức chặt chẽ với nhau.
vận động sau bao giờ curngcao hơn vận động trc

Reply

Cơ sở lí luận nào để phân chia các loại hình thức vận động

Reply

Đăng nhận xét